Paul Olivier đã có một sự nghiệp hấp dẫn và đa dạng. Mặc dù cả Thạc sĩ và Tiến sĩ của ông đều là triết học, ông đã phát triển những bước đột phá lớn trong một số lĩnh vực, chẳng hạn như điều chế khoáng sản, phân loại rau, nông nghiệp bền vững và quản lý chất thải. Năm 1981, Paul bắt đầu thiết kế máy phân tách để cải tạo các khu đất mỏ bị bỏ hoang. Năm năm sau, Paul đã phát minh ra một thiết bị phân tách đậm đặc hai chiều độc đáo, lần đầu tiên được sử dụng bởi các công ty chế biến rau quả lớn nhất ở châu Âu và sau đó được sử dụng bởi một số công ty tái chế lớn nhất thế giới

Vào năm 1995, Tiến sĩ Paul đã bắt đầu phương pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và thu hoạch nhờ vào việc phát triển ấu trùng ruồi lính đen, và từ đó niềm quan tâm đến nông nghiệp phát triển bền vững được khơi dậy. Kể từ đó, giáo sư đã nghiên cứu và phát triển một số công nghệ khác như lưu trữ và giảm thiểu chất ưa nhiệt, ủ nhiệt phân hữu cơ, vi khí hóa, phân trùn quế, công nghệ đốt, quá trình lên men axit lactic trong chăn nuôi quy mô nhỏ. Paul tin rằng thông qua việc tích hợp các công nghệ chi phí thấp như thế này, có thể cải thiện tình trạng nghèo khó cho hàng triệu người nghèo tại Việt Nam và châu Á.

Paul tin rằng một người quản lý chất thải sinh học nên có tầm nhìn sâu hơn để có thể cung cấp một sản phẩm hoặc dịch vụ cho một nông dân, và người nông dân giống như một chuyên gia trong việc quản lý chất thải sinh học. Do đó, ông thấy một kết nối sâu sắc giữa quản lý chất thải có trách nhiệm và nông nghiệp bền vững.

Nhưng ông cũng tin rằng kết nối này nên áp dụng cho toàn bộ các chất thải của con người, bao gồm cả phân và nước tiểu. Ông nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ đạt được bền vững thực sự cho đến khi chúng ta biết cách để trả lại cho thiên nhiên một vòng khép kín tất cả mọi thứ mà chúng cần để duy trì chúng. Sự trả lại cho thiên nhiên bao gồm, đầu tiên và trước hết, các chất dinh dưỡng trong chất thải của chúng ta. Chúng ta nên học được cách để trả lại thiên nhiên vòng tuần hoàn này, có lẽ đây là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của chúng ta, là những công dân của hành tinh Trái đất.

Paul tin rằng khi chúng tôi kết hợp với công nghệ xử lý chất thải một cách chính xác, kết luận đáng ngạc nhiên là hầu như tất cả các loại chất thải đều có thể sinh ra lợi nhuận. Thay vì xem chất thải như là một trách nhiệm to lớn, ông tin rằng chúng ta nên xem nó như là một tài sản quý giá. Trong thực tế, nó có thể trở thành một tài sản có ích như vậy, đặc biệt là trong tay của những người nghèo. Một ngày nào đó, Việt Nam có thể đứng ở một vị trí đặc biệt, nơi sẽ không có đủ chất thải để đáp ứng nhu cầu rất lớn cho chính mình.

EPWT được thành lập với mục đích giúp đỡ người nông dân thông qua việc chuyển hóa rác thải từ dân cư, thương mại, nông nghiệp và lâm nghiệp.

Tại EPWT, chúng tôi tin rằng “không có chất thải thực sự” và đối với mỗi loại chất thải, với sự kết hợp của các công nghệ, cho phép biến chúng thành một nguồn tài nguyên có giá trị lớn. Các công nghệ mà chúng tôi quảng bá đều ở quy mô nhỏ, công nghệ thấp và không tốn kém. Điều này giúp các hộ nông dân nghèo chuyển hướng khỏi các công ty lớn và công nghệ hiện đại. Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng trong quá trình xử lý chất thải, các mục tiêu môi trường và xã hội không thể tách rời nhau. Mục tiêu chính là giúp người nghèo chuyển hóa chất thải thành thực phẩm, nhiên liệu, thức ăn chăn nuôi và phân bón. Người nghèo không chỉ kiếm tiền mà còn không phụ thuộc vào các công ty xăng dầu, thức ăn chăn nuôi và phân bón. Theo cách tiếp cận của chúng tôi, việc tái chế chất thải phân hủy sinh học trở nên không thể thiếu với nông nghiệp bền vững.

  • Thành lập các trung tâm xử lý chất thải để đào tạo người nghèo vận hành các công nghệ này;
  • Tổ chức nông dân nghèo thành hợp tác xã để họ có được giá cao nhất cho các sản phẩm tái chế và chất thải của họ;
  • Để cho phép người nghèo tăng thêm thu nhập thông qua việc bán các sản phẩm có nguồn gốc từ chất thải có giá trị khác nhau từ 1 đến 20 triệu đồng một tấn;
  • Kết hợp các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa với các nguyên tắc tư bản chủ nghĩa, tạo sự quan tâm sâu sắc của người nghèo với thị trường;
  • Khai thác cơ cấu kinh tế – xã hội của các xã hội nông nghiệp, nơi có thể dễ dàng sử dụng lao động giá rẻ để giải quyết các vấn đề môi trường to lớn, từ đó tạo ra hàng triệu việc làm mới trong lĩnh vực kinh tế mới chuyển đổi chất thải quy mô nhỏ, phi tập trung;
  • Đảm bảo an ninh và ổn định nội bộ trong các nước đang phát triển thông qua sản xuất bền vững lương thực, nhiên liệu, thức ăn chăn nuôi và phân bón;
  • Loại bỏ việc sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu và phân bón hóa học ở các nước đang phát triển;
  • Phát triển cơ cấu định giá hai bậc cho một số thiết bị môi trường, kêu gọi các nước phát triển tự nguyện trả nhiều hơn một chút cho những sản phẩm để trợ cấp một phần cho việc bán chúng ở các nước đang phát triển;
  • Tạo ra những pháp giúp người dân ở các nước phát triển có thể hỗ trợ và giúp đỡ những người ở các nước đang phát triển;
  • Tinh chỉnh các mô hình chuyển đổi chất thải đã được thực hiện ở các nước đang phát triển sao cho chúng có thể được sử dụng và áp dụng ở các nước phát triển.